fbpx

TCVN 11041-1:2017 Nông nghiệp hữu cơ – Phần 1: Yêu cầu chung

Bộ tiêu chuẩn TCVN 11041 Nông nghiệp hữu cơ gồm các phần sau đây:

– TCVN 11041-1:2017 Nông nghiệp hữu cơ- Phần 1: Yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ,

– TCVN 11041-2:2017 Nông nghiệp hữu cơ- Phần 2: Trồng trọt hữu cơ,

– TCVN 11041-3:2017 Nông nghiệp hữu cơ- Phần 3: Chăn nuôi hữu cơ.

Hướng dẫn thủ tục tự công bố, đăng ký bản công bố thực phẩm

Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong việc quản lý ATTP tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP là bãi bỏ quy định về công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP. Thay vào đó là thủ tục tự công bố sản phẩm và thủ tục đăng ký bản công bố sản phẩm thực phẩm. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí so với trước đây.

Danh sách các loại sản phẩm tự công bố và đăng ký bản công bố thực phẩm

Danh sách các loại sản phẩm tự công bố:

  • Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn,
  • Phụ gia thực phẩm,
  • Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm,
  • Dụng cụ chứa đựng thực phẩm,
  • Vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm

Danh sách sản phẩm phải đăng ký bản công bố:

  • Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt.
  • Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi.
  • Phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia thực phẩm không thuộc trong danh mục phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định.

Hồ sơ tự công bố thực phẩm và đăng ký bản công bố sản phẩm

Hồ sơ tự công bố sản phẩm bao gồm:

  • Bản tự công bố sản phẩm theo Mẫu số 01 Phụ lục I của Nghị định 15/2018/NĐ-CP;
  • Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm của sản phẩm trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ được cấp bởi phòng kiểm nghiệm được chỉ định hoặc được công nhận phù hợp ISO 17025 gồm các chỉ tiêu an toàn do Bộ Y tế ban hành.

Hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm đối với sản phẩm trong nước gồm:

  • Bản công bố sản phẩm được quy định tại Mẫu số 02 Phụ lục I Nghị định 15/2018/NĐ-CP;
  • Phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm của sản phẩm trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ được cấp bởi phòng kiểm nghiệm được chỉ định hoặc được công nhận phù hợp ISO 17025 gồm các chỉ tiêu an toàn do Bộ Y tế ban hành;
  • Bằng chứng khoa học chứng minh công dụng của sản phẩm hoặc của thành phần tạo nên công dụng đã công bố;
  • Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm;
  • Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) trong trường hợp sản phẩm sản xuất trong nước là thực phẩm bảo vệ sức khỏe áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân).
Tự công bố sản phẩm không tốn phí

Trình tự thực hiện

Việc tự công bố sản phẩm được thực hiện theo trình tự như sau:

a) Tổ chức, cá nhân tự công bố sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử của mình hoặc niêm yết công khai tại trụ sở của tổ chức, cá nhân và nộp 01 bản qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định;

b) Ngay sau khi tự công bố sản phẩm, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm đó;

c) Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận bản tự công bố của tổ chức, cá nhân để lưu trữ hồ sơ và đăng tải tên tổ chức, cá nhân và tên các sản phẩm tự công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan tiếp nhận.

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân có từ 02 cơ sở sản xuất trở lên cùng sản xuất một sản phẩm thì tổ chức, cá nhân chỉ nộp hồ sơ tại một cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương có cơ sở sản xuất do tổ chức, cá nhân lựa chọn. Khi đã lựa chọn cơ quan quản lý nhà nước để nộp hồ sơ thì các lần tự công bố tiếp theo phải nộp hồ sơ tại cơ quan đã lựa chọn trước đó.

Trình tự đăng ký bản công bố sản phẩm: Chi tiết tại điều 5 của Nghị định 15/2018/NĐ-CP.

Các chỉ tiêu an toàn phải công bố

Căn cứ để công bố đạt yêu cầu ATTP là những quy chuẩn kỹ thuật (QCVN); thông tư của các bộ ngành; tiêu chuẩn quốc gia, khu vực, quốc tế; tiêu chuẩn của nhà sản xuất.

Như vậy, để công bố thì đầu tiên các tổ chức sản xuất, kinh doanh phải nắm được sản phẩm của mình đã có quy chuẩn kỹ thuật hay chưa. Link download danh sách QCVN do Bộ Y tế ban hành tại đây

Đối với các sản phẩm đã có quy chuẩn, các tổ chức sản xuất, kinh doanh công bố đạt ATTP theo các quy chuẩn này.

Đối với các sản phẩm chưa có quy chuẩn, các tổ chức sản xuất, kinh doanh công bộ đạt yêu cầu ATTP theo các căn cứ dưới đây (Link download tại đây ):

  • Mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc thú y trong thực phẩm: thông tư số 24/2013/TT-BYT
  • Mức giới hạn tối đa về ô nhiễm độc tố nấm mốc trong thực phẩm: QCVN 8-1:2011/BYT
  • Mức giới hạn tối đa về ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm: QCVN 8-2:2011/BYT
  • Mức giới hạn tối đa về ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm: QCVN 8-3:2012/BYT
  • Mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm: thông tư 50/2016/TT-BYT
  • Quy định về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm: QCVN 12-1:2011/BYT, QCVN 12-2:2011/BYT, QCVN 12-3:2011/BYT, QCVN 12-4:2015/BYT.

Nếu bạn gặp những vướng mắc hay khó khăn trong quá trình lập hồ sơ tự công bố hoặc hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm thực phẩm, hãy liên hệ với VNC để được tư vấn miễn phí. Hotline: 0917.81.81.88

Căn cứ để chứng nhận VietGAP chăn nuôi

➡️ Không giống như VietGAP trồng trọt (đã được xây dựng thành TCVN và do Bộ KHCN quản lý), VietGAP chăn nuôi vẫn thuộc sự quản lý của Cục Chăn nuôi thuộc Bộ NNPTNT.
➡️ Hiện nay, Bộ NNPTNT ban hành đến 3 Quyết định về Quy phạm thực hành chăn nuôi tốt cho các đối tượng vật nuôi. Tuy nhiên, nhiều cơ cở chăn nuôi và một số đơn vị tư, vấn chứng nhận vẫn chưa nắm rõ phạm vi áp dụng tại các Quyết định này.

Chứng nhận VietGAP chăn nuôi tại Việt Nam

➡️ Cụ thể 3 Quyết định này như sau:
1️⃣ Quyết định 5472/QĐ-BNN-CN ngày 30/12/2015: áp dụng đối với chăn nuôi lợn, gà an toàn trong nông hộ thuộc vùng dự án Lifsap (gồm 12 tỉnh: Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Nai và Lâm Đồng)
2️⃣ Quyết định 2509/QĐ-BNN-CN ngày 22/6/2016: áp dụng đối với chăn nuôi lợn, gà an toàn trong nông hộ (áp dụng tại các tỉnh còn lại, trừ 12 tỉnh thuộc dự án Lifsap)
3️⃣ Quyết định 4653/QĐ-BNN-CN ngày 10/11/2015: áp dụng đối với các cơ sở chăn nuôi 8 đối tượng: bò sữa; bò thịt; dê sữa; dê thịt; lợn; gà; ngan-vịt và ong (đối với lợn, gà quy mô nông hộ thì áp dụng 1 trong hai quyết định trên; còn lại sẽ áp dụng theo 4653/QĐ-BNN-CN)

🔗 Link download VietGAP chăn nuôi: https://goo.gl/G4HbsY

📞 Hãy liên hệ với VNC để được tư vấn cụ thể hơn về chứng nhận VietGAP chăn nuôi (Mr. Minh – 0917.818188)

#VietGAP #channuoi #VNC

Phân biệt hiệu chuẩn và kiểm định thiết bị theo dõi, đo lường

  • Các anh chị làm việc trong các đơn vị sản xuất có lẽ đã nghe nhiều tới khái niệm hiệu chuẩn, kiểm định thiết bị đo lường. Tuy nhiên, không phải ai cũng phân biệt rõ được 2 khái niệm này. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giúp các anh chị hiểu rõ và phân biệt được 2 khái niệm này.
  • Kiểm định là việc xác định, xem xét sự phù hợp của phương tiện đo so với yêu cầu pháp lý có đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể hay không, kết quả do cơ quan kiểm định nhà nước xác định là đạt hoặc không đạt.
  • Kiểm định mang tính chất bắt buộc đối với các phương tiện đo lường nhóm 2 được quy định trong thông tư số 23/2013/TT-BKHCN.
  • Việc kiểm định phương tiện đo do kiểm định viên đo lường thực hiện thống nhất theo các quy trình kiểm định. Thiết bị đo sau khi kiểm định đạt yêu cầu được dán tem kiểm định hoặc cấp giấy chứng nhận kiểm định của cơ quan quản lý Nhà nước về đo lường hoặc cơ sở được uỷ quyền kiểm định Nhà nước và có giá trị pháp lý trong cả nước.
Tem kiểm định và tem hiệu chuẩn
  • Hiệu chuẩn phương tiện đo là thiết lập mối tương quan giữa đo lường và phương tiện đo. Hiệu chuẩn liên quan tới xác định các đặc tính đo lường của một phương tiện đo. Thực hiện thông qua việc so sánh trực tiếp với những chuẩn đã biết.
  • Hiệu chuẩn là 1 hoạt động tự nguyện, không mang tính bắt buộc. Thiết bị sau khi hiệu chuẩn được cấp giấy chứng nhận hiệu chuẩn và (trong hầu hết các trường hợp) được gắn tem. Trên cơ sở thông tin này, người sử dụng có thể quyết định phương tiện đo có phù hợp với yêu cầu sử dụng của mình hay không.
  • Bản chất kỹ thuật của hiệu chuẩn và kiểm định giống nhau: đó là việc so sánh phương tiện đo với chuẩn để đánh giá sai số và các đặc trưng kỹ thuật, đo lường khác của nó. Khác nhau là kiểm định theo yêu cầu của pháp lý, bắt buộc áp dụng trong khi hiệu chuẩn là tự nguyện.
  • Tầm quan trọng của phương tiện đo được hiệu chuẩn là: Đảm bảo sự hiển thị số đo của một phương tiện đo phù hợp với các phép đo khác; Xác định độ không đảm bảo đo của phương tiện đo; Thiết lập sự tin cậy của phương tiện đo. Vì vậy, khi các tổ chức áp dụng các hệ thống quản lý như ISO 9001, ISO 22000, ISO/IEC 17025 …. thì việc hiệu chuẩn phương tiện đo gần như là 1 yêu cầu bắt buộc.
  • Một ví dụ để anh chị rõ hơn: Cùng là cân, tuy nhiên có cái bắt buộc phải kiểm định, có cái thì có thể chỉ cần hiệu chuẩn. Nếu anh chị sử dụng cân để xác định trọng lượng hàng để từ đó quyết định giá bán cho khách hàng thì cân đó bắt buộc phải kiểm định (ví dụ: cân điện tử trong siêu thị, cân xe tải ở cổng nhà máy ….). Còn cân được sử dụng trong quá trình sản xuất, để cân nguyên liệu, bán thành phẩm, phụ gia … thì cân đó không bắt buộc phải kiểm định, anh chị có thể hiệu chuẩn hoặc không.

 

Chuyên đề ISO 22000/HACCP: Phân biệt PRP, OPRP, CCP

Đây là một số khái niệm căn bản trong HACCPISO 22000 mà chúng ta cần nắm khi xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, khi tra cứu trên google thì rất ít tài liệu giải thích rõ ràng và cụ về các khái niệm này, vì vậy với những hiểu biết của mình, chúng tôi sẽ giải thích một cách dễ hiểu nhất có thể. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích được cho các bạn.

ccp-oprp-prp
Mô hình PRP, oPRP, CCP

1. Chương trình tiên quyết (PRP – Prerequisite Program)

  • Là các điều kiện và các hoạt động cần thiết trong tổ chức và trong toàn bộ chuỗi thực phẩm để duy trì an toàn thực phẩm. Đây chương trình cơ bản thiết yếu để duy trì môi trường vệ sinh cho sản xuất, chế biến và/hoặc xử lý sản phẩm và không được thực hiện cho mục đích kiểm soát các mối nguy được nhận biết cụ thể.
  • PRP là nền tảng của HACCP, giúp kiểm soát chung trong bất kỳ hoạt động thực phẩm nào, chúng không được sử dụng cụ thể cho một công đoạn nào trong quá trình chế biến và không kiểm soát một mối nguy cụ thể.
  • Ví dụ về 1 số PRP: làm sạch và vệ sinh, phòng ngừa nhiễm bẩn chéo, kiểm soát động vật gây hại …Tiêu chuẩn ISO/TS 22002 đã có nêu chi tiết về việc thiết lập, thực hiện và duy trì các PRP trong các phân khúc của chuỗi thực phẩm.
  • Tùy thuộc vào vị trí của tổ chức trong chuỗi thực phẩm, một số thuật ngữ tương đương được sử dụng như: thực hành nông nghiệp tốt – GAP, thực hành thú y tốt – GVP, thực hành vệ sinh tốt – GHP, thực hành sản xuất tốt – GMP …

2. Chương trình tiên quyết điều hành (OPRP – Operational Prerequisite Program)

  • Là biện pháp kiểm soát hoặc sự kết hợp của các biện pháp kiểm soát được áp dụng để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu một mối nguy an toàn thực phẩm có ý nghĩa đến một mức chấp nhận, và nơi tiêu chí hành động và đo lường hoặc quan sát cho phép kiểm soát hiệu quả quá trình và/hoặc sản phẩm.
  • Về bản chất OPRP là một chương trình tiên quyết (PRP) đặc biệt, chúng được được xác định thông qua việc phân tích các mối nguy và áp dụng cho một mối nguy đáng kể cụ thể, tại một công đoạn/ sản phẩm cụ thể.
  • OPRP là một biện pháp kiểm soát quan trọng, tuy nhiên không có giới hạn tới hạn nhưng cần có giới hạn hành động/tiêu chí hành động để chứng tỏ rằng OPRP được kiểm soát. Không đáp ứng các tiêu chí được thiết lập không có nghĩa là sản phẩm mất an toàn, tuy nhiên cần có các hành động khắc phục.
  • Ví dụ về OPRP: phòng ngừa nhiễm chéo chất gây dị ứng tại 2 công đoạn trong dây chuyền, kiểm soát trong khâu bảo quản sản phẩm …

3. Điểm kiểm soát tới hạn (CCP – Critical Control Point)

  • Là bước quá trình tại đó (các) biện pháp kiểm soát được áp dụng để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu mối nguy an toàn thực phẩm đáng kể đến mức chấp nhận được, và các giới hạn tới hạn đã xác định và đo lường cho phép áp dụng các khắc phục.
  • Các mối nguy đáng kể được nhận biết trong quá trình phân tích mối nguy được kiểm soát bằng hai loại biện pháp kiểm soát: OPRP và các biện pháp kiếm soát áp dụng tại các CCP.
  • Các biện pháp kiểm soát tại CCP được quản lý theo kế hoạch HACCP. Biện pháp kiểm soát này xác định các giới hạn tới hạn có thể tách sản phẩm chấp nhận được khỏi các sản phẩm không có khả năng chấp nhận được (không an toàn). Không đáp ứng các giới hạn tới hạn này nghĩa là sản phẩm không an toàn tiềm ẩn.
  • Vi dụ về CCP: nhiệt độ và thời gian tại công đoạn thanh trùng sữa, độ ẩm của sản phẩm sau sấy …

Các bạn có thể đọc thêm TCVN ISO/TS 22004:2015 để hiểu rõ hơn các khái niệm này và các điều khoản của ISO 22000.

Download TCVN ISO/TS 22004:2015 tại đây

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và cung cấp các dịch vụ tốt nhất liên quan đến chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000:2018 theo hotline 0917.81.81.88

Xem thêm:

Cần minh bạch hóa trong lĩnh vực chứng nhận nông nghiệp hữu cơ

Trong thời gian qua, hoạt động chứng nhận nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi một số tổ chức chứng nhận ở nước ngoài, thực hiện đánh giá chứng nhận theo các tiêu chuẩn của USDA-NOP hay EC 834/2007 để phục vụ cho yêu cầu cụ thể của một số thị trường xuất khẩu.

Theo số liệu thống kê sơ bộ , đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam có khoảng 18 doanh nghiệp được chứng nhận theo tiêu chuẩn USDA-NOP và 12 doanh nghiệp được chứng nhận theo tiêu chuẩn EC 834/2007. Hoạt động tự đánh giá, tự công bố theo hình thức của chương trình Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS của IFOAM đã được triển khai tại 6 hệ thống ở các địa phương bao gồm Sóc Sơn – Hà Nội, Lương Sơn – Hoà Bình, Trác Văn – Hà Nam, Tân Lạc – Hoà Bình, Hội An và Bến Tre thu hút 298 thành viên là các hộ nông dân với tổng diện tích 27,8 héc ta công bố đạt tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ PGS, chuyển đổi 15,5 héc ta, cung cấp khoảng 714 tấn rau 1 năm cho thị trường nội địa.

Nông nghiệp hữu cơ -VNC

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang là xu hướng được doanh nghiệp, người dân lựa chọn

Theo các doanh nghiệp, tại Việt Nam hiện vẫn chưa tổ chức nào có đủ thẩm quyền để chứng nhận một sản phẩm là sản phẩm hữu cơ vì chưa có quy định. Do đó, cách đơn giản nhất là doanh nghiệp sẽ phải mời một tổ chức nước ngoài vào kiểm tra, đánh giá và cấp chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Nhưng việc mời một đơn vị thứ 3 cấp chứng nhận nhận như vậy là rất đắt đỏ.

Ông Trần Mạnh Chiến, Giám đốc chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch Bác Tôm, đồng thời là Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Nông nghiệp tại Đại học Larenstein (Hà Lan) cho hay, chi phí để các tổ chức nước ngoài cấp chứng nhận sản phẩm hữu cơ như vậy, mỗi năm tính ra khoảng 4.000 đến 5.000 đô la Mỹ. Trong khi đó, sản xuất trong nước còn rất manh mún, nếu chỉ mời tổ chức nước ngoài về chứng nhận cho khoảng 1 héc ta rau thì giá thành sẽ đội lên rất cao, sản phẩm kém cạnh tranh.

Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ trong nước đa phần sản xuất nông sản hữu cơ và được cấp chứng nhận PGS (Participatory Guarantee System), tức hệ thống bảo đảm dựa vào sự tham gia của các tổ chức và con người có liên quan trực tiếp vào chuỗi cung cấp hữu cơ. Nhưng, ông Chiến cũng thừa nhận, PGS và cả chứng nhận của VOA  đều không có giá trị pháp lý.

Đề cập đến vấn đề chứng nhận nông nghiệp hữu cơ, ông Nguyễn Nam Hải, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng ( Bộ KH&CN) cho hay, cũng giống như các nước đã phát triển về hoạt động này, hoạt động chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam không phải là chứng nhận về an toàn mà là hoạt động chứng nhận tự nguyện để khẳng định sự tin cậy và chính xác của công bố thông tin về đặc tính sản xuất hữu cơ trên nhãn sản phẩm nhằm bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng khi chấp nhận bỏ ra một chi phí lớn hơn cho sản phẩm được sản xuất theo phương thức hữu cơ.

“Trên quan điểm đó, Tổng cục TCĐLCL, Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai xây dựng hệ thống chứng nhận nông nghiệp hữu cơ theo cơ chế tự nguyện do tổ chức chứng nhận bên thứ 3 thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc chứng nhận được quy định tại ISO/IEC 17065, chứng nhận việc xử lý các hoạt động và quá trình sản xuất sản phẩm hữu cơ phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia TCVN trong lĩnh vực này”, ông Hải cho biết.

Theo lãnh đạo Tổng cục TCĐLCL, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia TCVN hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế Codex về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và xây dựng chương trình chứng nhận tương đồng với thực tiễn chung của các nước trên thế giới là điều kiện quan trọng để đảm bảo tiến tới thoả thuận và được các quốc gia khác chấp nhận theo nguyên tắc thừa nhận lẫn nhau, bước đầu là trong ASEAN, sau đó mở rộng tới các nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Ấn độ…, tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

Mặt khác, ông Hải cũng cho rằng cần khuyến khích và ghi nhận nỗ lực của các chương trình tự đánh giá, tự công bố như chương trình Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS của IFOAM mà Hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang thúc đẩy triển khai. Khuyến khích các hình thức tự công bố phù hợp tiêu chuẩn với sự giám sát, thanh kiểm tra của các cơ quan có chức năng là một phương thức quản lý chất lượng mà hiện nay Tổng cục TCĐLCL đang đẩy mạnh theo đúng tinh thần tháo gỡ, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh nêu trong Nghị quyết 19 của Chính phủ. Tuy nhiên, cũng cần có sự minh bạch hoá và điều chỉnh thông tin từ phía chương trình Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS để tránh nhầm lẫn giữa hoạt động tự công bố phù hợp với hoạt động chứng nhận do bên thứ ba thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất lượng và đánh giá sự phù hợp.

Bên cạnh đó, Tổng cục TCĐLCL cũng khuyến khích các tổ chức, đơn vị sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất nông nghiệp hữu cơ nói riêng tham gia đăng ký trong hệ thống mã số mã vạch (MSMV) quốc gia mà Tổng cục hiện đang là đầu mối quản lý. Trái với các hệ thống thiết lập QR Code tự phát hiện nay, hệ thống MSMV quốc gia cùng với các tiêu chuẩn ứng dụng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế GS1 (VD: GS1 QR Code) là cơ sở để dữ liệu về tổ chức, đơn vị sản xuất nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hữu cơ nói riêng được đăng ký, xác thực và đảm bảo độc lập, duy nhất trong hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về MSMV cũng như trong cơ sở dữ liệu MSMV kết nối với quốc tế, hỗ trợ cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm có xác thực thông tin.

(Nguồn: vietq.vn)